Tiềm kiếm
Sunday, May 13, 2007
5 bước tự phòng chống virus USB hiệu quả
Có lẽ cũng không phải nói nhiều về những phiền toái mà bạn gặp với những con virus đáng ghét này. Tuy nhiên bạn hoàn toàn có thể hạn chế những vị khách không mời này xâm nhập vào chiếc USB của bạn.
Virus lây qua USB đã trở nên quá phổ biến hiện nay tại Việt Nam, nhất là khi chiếc ổ di động USB đã trở thành vật bất ly thân của đại đa số học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng... Những con virus này tự động xâm nhập khi bạn cắm USB của bạn vào một máy tính đã bị nhiễm virus.
Và mỗi khi bạn USB này được đưa vào một máy tính khác, virus lợi dụng thói quen sơ hở của bạn mỗi khi click đúp vào biểu tượng ổ đĩa USB trong My Computer để xâm nhập. Tại đây chúng tiếp tục nhân bản và phát tán chính mình bằng nhiều đường. Và đương nhiên nạn nhân tiếp theo sẽ là những chiếc USB khác cắm vào máy.
Tại sao virus có thể lây nhiễm qua USB? Là bởi vì virus sao chép chính nó lên USB, và tạo một file Autorun.inf để kích hoạt tính năng Autoplay của ổ đĩa. Mỗi khi bạn click vào để mở USB thì bạn sẽ vô tình chạy chính con virus này. Thêm nữa, chúng khôn khéo đặt thuộc tính ẩn cho chính mình để tránh bị phát hiện.
Làm thế nào để có thể phát hiện ra được USB có virus hay không? Nếu như bình thường bạn mở USB bằng cách click chuột trái vào biểu tượng USB ở My Computer thì hãy thay đổi thói quen đó. Hãy thử click chuột phải vào biểu tượng ổ USB, nếu như bạn thấy có dòng Autoplay được tô đậm ở vị trí trên cùng, có nghĩa là 90% USB đó đã bị nhiễm virus. Bởi vì bình thường thì dòng chữ tô đậm ấy phải là Open hoặc Explorer thay vì Autoplay.
Hãy thử click chuột phải vào biểu tượng ổ USB, nếu như bạn thấy có dòng Autoplay được tô đậm ở vị trí trên cùng, có nghĩa là 90% USB đó đã bị nhiễm virus. Bởi vì bình thường thì dòng chữ tô đậm ấy phải là Open hoặc Explorer thay vì Autoplay.
Điều này còn có thể áp dụng với các ổ đĩa cứng, một vài con virus sau khi lây vào máy còn lây vào Autoplay của các ổ cứng. Quá trình lây vào ổ cứng khiến cho virus vẫn có thể được kích hoạt mà không cần phải sao chép vào Start Up, một nơi vẫn thường xuyên được kiểm tra. Tuy nhiên, các virus USB thường tự đặt nó trong trạng thái ẩn, chính vì vậy tốt nhất bạn nên thường xuyên đặt chế độ xem các file ẩn bằng cách vào My Computer -> Tools -> Folder Options.. -> View -> Chọn Show hidden files and folders và bỏ Hide protected system files.
Tự bảo vệ mình như thế chưa đủ. Tốt nhất hãy bảo vệ USB của mình khỏi bị nhiễm virus. Bạn hoàn toàn có thể tự làm được ngay cả khi bạn không phải là một người am hiểu về máy tính.
Thật vậy, nếu như virus lây vào USB của bạn và tìm cách lừa bạn chạy nó qua tính năng Autoplay của USB thì tại sao bạn lại không thử lừa lại nó. Để ý rằng virus USB nào cũng tạo file autorun.inf, vậy thì bạn hãy tạo sẵn file autorun.inf trong USB của mình. Chắc chắn rằng chỉ với bước này bạn đã “qua mặt” được kha khá virus USB rồi.
Nhưng xem ra như thế vẫn chưa đủ, bạn cần phải cấm các con virus thông minh hơn ghi đè file này. Điều này bạn cũng hoàn toàn có thể làm được dễ dàng với USB nếu như bạn chuyển hệ thống file của USB sang NTFS và đặt quyền cấm ghi đè cho file autorun.inf.
Tất nhiên việc chuyển hệ thống files sang NTFS thì USB của bạn sẽ không thể dùng được trên Windows 98/ME, nhưng chắc rằng Windows 98/ME thì cũng không tự động nhận được USB của bạn, hơn nữa Windows 98/ME hiện nay cũng hơi hiếm thấy.
Khi bạn đã sẵn sàng, hãy bắt đầu bảo vệ USB của bạn qua những thao tác đơn giản với Windows XP qua 5 bước sau:
Bước 1: Xác định tên ổ đĩa USB của bạn là gì bằng cách click vào My Computer và xác định ổ USB. Ví dụ như USB của bạn là ổ E: và nhãn là STORAGE
Bước 2: Chuyển đổi hệ thống files sang NTFS bằng cách Click vào Start -> Run, sau đó gõ convert : /FS:NTFS. Ví dụ bạn sẽ phải gõ convert E: /FS:NTFS . Lưu ý, nếu ổ USB của bạn có chức năng ghi âm và nghe nhạc MP3 thì nên bỏ qua bước này. Nếu không, có thể phần mềm chơi nhạc của bạn sẽ không thể chạy các file MP3 được.
Bước 3: Tạo một file autorun.inf với nội dung bất kì, thậm chí để trống cũng được và copy vào thư mục gốc của ổ đĩa USB của bạn.
Bước 4: Click chuột phải vào file autorun.inf bạn vừa tạo và chọn thuộc tính cho file này là read-only, bạn cũng có thể chọn thêm hidden.
Bước 5: Cấm mọi quyền truy xuất vào file autorun.inf bạn vừa tạo bằng cách Click vào Start -> Run, sau đó gõ cacls \autorun.inf /D Everyone. Ví dụ như bạn sẽ gõ cacls E:\autorun.inf /D Everyone
Tất nhiên là không thể nói là an toàn với tất cả các loại virus USB, nhưng phương pháp này cũng phần nào giúp cho USB của bạn an toàn trước đại đa số chuyên lây qua USB hiện nay. Và hơn hết, hãy cài lên máy của mình một chương trình diệt virus đáng tin cậy, đặc biệt nên có tính năng tự động cập nhật thường xuyên.
Chúc bạn thành công.
24H.COM.VN (Theo Vietnamnet)
Tạo máy ảo với Microsoft Virtual PC 2007
(vietnamlab.com) - Từ lâu, phần mềm tạo máy ảo đã là "vật bất ly thân" trong hành trang của dân quản trị hệ thống cũng như những chuyên viên kiểm tra và phát triển phần mềm. Còn với "vọc sĩ" máy tính, máy ảo được xem là phương tiện để thử nghiệm những phần mềm lạ, những hệ điều hành "độc" có thể tiềm ẩn sự rủi ro cho hệ thống, trước khi quyết định có cài chúng vào máy tính của mình hay không. Hai phần mềm tạo máy ảo mạnh và thông dụng nhất hiện nay là VMware Workstation của hãng Vmware và Microsoft Virtual PC được thiết kế bởi gã khổng lồ Microsoft. Bài viết này, chúng ta hãy cùng khai thác phiên bản Microsoft Virtual PC 2007 (MVP7). Phiên bản chính thức của MVP7 có dung lượng 30 MB, cung cấp miễn phí tại 1 trong 2 địa chỉ sau:
http://download.microsoft.com/download/8/5/6/856bfc39-fa48-4315-a2b3-e6697a54ca88/32%20BIT/setup.exe
Tải xong, chạy trực tiếp file setup.exe để cài đặt.
So với VMware Workstation 6 thì MVP7 có dung lượng gọn nhẹ hơn rất nhiều, ngốn ít tài nguyên hệ thống hơn và đặc biệt là cách sử dụng tương đối dễ dàng hơn.
Tạo máy ảo (virtual machine)
Bạn kích hoạt MVP7 thông qua shortcut Microsoft Virtual PC có trong menu Start > Programs. Trong hộp thoại đầu tiên xuất hiện, bấm Next để bắt đầu các bước tạo ra một máy ảo mới.
Ở hộp thoại Options, tại mục Select an option, bạn giữ nguyên dấu kiểm ở tùy chọn Create a virtual machine rồi bấm Next.
Trong hộp thoại Virtual Machine Name and Location, bạn nhập vào tên bất kỳ cho máy ảo trong hộp Name and location (chẳng hạn MU), chọn thư mục lưu file MU.vmc chứa những thông tin và thông số hoạt động của máy ảo (mặc định là My DocumentsMy Virtual Machines) rồi bấm Next.
Ở hộp thoại Operating system, tại mục Operating system, bạn bấm vào nút xổ xuống và lựa chọn một hệ điều hành (đã hỗ trợ Windows Vista) muốn cài đặt cho máy ảo này, rồi bấm tiếp nút Next. Bài này, người viết chọn hệ điều hành khách là Windows XP. Và xin lưu ý, tùy thuộc vào hệ điều hành bạn chọn, chương trình sẽ tự động hiệu chỉnh dung lượng thích hợp của bộ nhớ RAM phân phối cho máy ảo này.
Trong hộp thoại Memory, bạn có thể giữ dấu kiểm mặc định tại mục Using the recommended RAM đồng nghĩa với việc giữ nguyên dung lượng RAM mà chương trình phân phối cho máy ảo (với Windows XP là 128 MB); còn nếu muốn nâng tốc độ xử lý cho máy ảo này thì bạn đánh dấu ở mục Adjusting the RAM, rồi kéo con trượt về phía phải để tùy chỉnh dung lượng lớn hơn cho RAM. Xong, bạn bấm Next.
Ở hộp thoại Virtual Hard Disk Options, bạn đánh dấu ở mục A new virtual hard disk rồi bấm Next.
Trong hộp thoại Virtual Hard Disk Location kế tiếp, bạn nhập vào một giá trị xác định trong hộp Virtual hard disk size (mặc định là 65.536 MB, maximum là 130.557 MB) tương ứng với dung lượng tạm thời của đĩa cứng ảo hay kích thước của file MU Hard Disk.vhd lưu trong thư mục My DocumentsMy Virtual Machines, bấm Next rồi bấm tiếp nút Finish là hoàn tất công đoạn tạo máy ảo. Kích thước của file MU Hard Disk.vhd sẽ phình to dần khi bạn cài đặt hệ điều hành khách cũng như những phần mềm liên quan cho máy ảo này.
Ngay sau đó, bạn thấy trong giao diện hộp thoại Virtual PC console sẽ xuất hiện một máy ảo có tên MU ở trạng thái chưa được kích hoạt (Not Running). Muốn xem qua một vài thiết lập phần cứng liên quan đến máy ảo này, bạn bấm vào nút Setting nằm bên phải để mở cửa sổ Setting for MU. Xong, bấm OK.
Nút New... có chức năng tạo thêm một máy ảo khác, còn nút Remove dùng để loại bỏ những máy ảo mà bạn đã tạo.
Trong giao diện máy ảo xuất hiện, trước tiên bấm vào menu CD và chọn dòng lệnh Use Physical Drive G: để kích hoạt việc khởi động máy ảo từ đĩa CD này.
Tiếp đó màn hình Windows Setup sẽ hiện ra và các thao tác cài đặt Windows XP trên máy ảo, bạn cũng thực hiện y chang như trên máy thật hay còn gọi là máy chủ (host machine). Và lúc quá trình cài đặt hoàn tất, bạn hãy lấy đĩa CD ra khỏi ổ.
Hệ điều hành khách mà bạn vừa cài xong cho máy ảo có giao diện y hệt hệ điều hành chủ (Host OS) của máy thật, nhưng điều thú vị là bạn không phải mất công cài đặt driver của sound card, card màn hình hay card mạng cho hệ điều hành khách nữa, vì chúng sẽ tự động nhận diện thông qua hệ điều hành chủ. Tuy nhiên khi muốn thử nghiệm phần mềm trên hệ điều hành khách, thì bạn phải cài đặt thông qua đĩa CD hoặc tải về từ Internet (rồi lưu lại trong ổ đĩa C của hệ điều hành khách) bằng trình duyệt web Internet Explorer có sẵn.
Một vài nút lệnh quan trọng trong menu của máy ảo
1) Action
- Full Screen Mode: chuyển giao diện hệ điều hành khách về chế độ xem toàn màn hình. Khi muốn trở lại trạng thái trước đó, bạn sử dụng tổ hợp phím Right Alt + Enter (nút Alt nằm phía phải của bàn phím).
- Ctrl + Alt + Del: nếu đang ở trong môi trường Windows, bạn dùng tổ hợp phím này để mở Task Manager; còn nếu ở ngoài thì dùng kích hoạt việc khởi động lại máy ảo.
- Pause: tạm dừng hoạt động của máy ảo.
- Reset: khởi động lại hệ điều hành khách.
- Close: khi bạn bấm vào nút này, hộp thoại hiện ra sẽ cung cấp 3 tùy chọn: Save State (lưu lại trạng thái làm việc hiện thời của hệ điều hành khách cho lần sử dụng kế tiếp, tương tự chức năng Hibernate trên máy chủ), Shutdown for Windows và Turn off (đều có chức năng đóng cửa sổ làm việc của máy ảo).
- Install or Update Virtual Machine Additions: cài đặt/cập nhật một số thành phần bổ sung cho máy ảo.
2) CD
- Use Phisycal Drive G: khởi động máy ảo từ đĩa CD, hoặc cấp quyền sử dụng đĩa CD mà bạn vừa bỏ vào ổ đĩa trên hệ điều hành khách.
- Capture Iso Image: khởi động máy ảo từ một file ISO lưu sẵn trong đĩa cứng của máy chủ, áp dụng trong trường hợp bạn muốn thử nghiệm độ tin cậy một hệ điều hành hay đĩa Boot nào đó trước khi quyết định ghi file ISO vào đĩa CD.
3) Floppy
- Control Phisycal Drive A: khởi động máy ảo từ đĩa mềm, hoặc cấp quyền sử dụng đĩa mềm trên hệ điều hành khách.
- Capture Floppy Image: khởi động máy ảo từ một file ảnh của đĩa mềm.
Lưu ý:
- Trong thời gian làm việc với hệ điều hành khách, khi muốn tạm thời thoát ra ngoài để sử dụng những chương trình khác trong hệ điều hành chủ, bạn chỉ việc nhấn vào phím Alt nằm phía phải của bàn phím.
- Để đảm bảo máy ảo hoạt động một cách trơn tru nhất, máy chủ của bạn cần có bộ nhớ RAM là 512 MB và CPU từ 1.5 GHz trở lên.
Các thủ thuật bảo dưỡng máy tính
Bắt đầu
Đây là một vài thao tác bảo dưỡng cơ bản mà bạn có thể làm hôm nay để bắt đầu tăng cường bảo mật máy tính của bạn. Đảm bảo rằng bạn đưa những thao tác này vào phần bảo dưỡng liên tục.
Đăng nhập vào các thông báo qua thư điện tử về cập nhật phần mềm. Nhiều công ty phần mềm sẽ gửi cho bạn thư điện tử bất cứ khi nào có cập nhật phầm mềm. Điều này là đặc biệt quan trọng cho hệ điều hành của bạn (ví dụ, Microsoft Windows® hoặc Macintosh), chương trình diệt vi rút của bạn, và tường lửa của bạn.
Đăng ký phần mềm của bạn. Nếu bạn vẫn còn giữ mẫu đăng ký cho phần mềm hiện có, gửi chúng đi. Và nhớ đăng ký phần mềm mới trong tương lai. Đây là một cách khác để nhà sản xuất phần mềm thông báo cho bạn biết khi có các cập nhật mới.
Cài đặt cập nhật phần mềm ngay lập tức. Khi bạn nhận được thông báo cập nhật, tải cập nhật xuống ngay lập tức và cài đặt nó. (Xin nhớ, tải xuống và cài đặt là hai thao tác riêng biệt.)
Phát triển thói quen bảo dưỡng liên tục
Bây giờ bạn đã hoàn thành một số công việc cơ bản, tới lúc để bắt đầu chuyển sang các thao tác bảo dưỡng lâu dài hơn. Đây là tất cả các thao tác mà bạn cần làm hôm nay (hoặc càng sớm càng tốt) để bắt đầu. Nhưng để có kết quả tốt nhất, đưa những thao tác này vào lịch bảo dưỡng định kỳ. Chúng tôi khuyên bạn đặt ra một thời gian trong mỗi tuần để giúp bảo vệ máy tính của bạn.
Sao lưu các tệp của bạn Sao lưu các tệp của bạn đơn giản có nghĩa là tạo ra một bản sao các tệp máy tính của bạn để bạn có thể sử dụng trong trường hợp mất các tệp gốc. (Rủi ro có thể xảy ra.) Để tìm hiều thêm, đọc các thủ thuật của chúng tôi để có thông tin về sao lưu.
Quét các tệp của bạn bằng phần mềm diệt vi rút được cập nhật. Sử dụng công cụ quét vi rút thường xuyên để tìm kiếm các vi rút và sâu máy tính tiềm tàng. Ngoài ra, xem hướng dẫn sử dụng của chương trình diệt vi rút của bạn để xem bạn có thể lập lịch tự động quét máy tính của bạn không. Để tìm hiều thêm, đọc các thủ thuật của chúng tôi để biết cách giảm nguy cơ vi rút.
Thay đổi mật khẩu của bạn. Sử dụng cùng một mật khẩu tăng khả năng có người khác phát hiện ra nó. Thay đổi tất cả các mật khẩu thường xuyên (chúng tôi khuyên bạn nên làm hàng tháng) để giảm nguy cơ cho bạn. Ngoài ra, chọn mật khẩu một cách cẩn thận. Để tìm hiều thêm, đọc các thủ thuật của chúng tôi để biết cách tạo các mật khẩu mạnh hơn.
Lập lịch
Một trong những cách tốt nhất giúp bảo vệ máy tính của bạn là thực hiện bảo dưỡng thường xuyên. Để giúp bạn theo dõi, chúng tôi đề nghị lập một "cuộc hẹn" định kỳ với máy tính của bạn. Đối xử với nó giống như bạn làm với bất cứ cuộc hẹn nào khác. Ghi vào sổ ngày của bạn hoặc lịch trực tuyến, và nếu bạn không thể thực hiện được, lập lịch lại. Xin nhớ, bạn không chỉ giúp cải thiện máy tính của bạn mà còn giúp bảo vệ thông tin cá nhân của bạn.
Theo MicrosoftVietnam
10 cách “hack” Windows Vista
Bạn đang chạy Windows Vista và muốn sử dụng giao diện mĩ miều của Aero. Nhưng có thể bạn sẽ phải “hack” cấu trúc bên trong của Vista để có thể thấy được giao diện đó.
Có rất nhiều cách để có thể hack Windows Vista và đây là 10 cách trong số đó. Bạn có thể chỉnh sửa bất cứ cái gì, từ tốc độ của Windows Aero tới mở khóa tài khoản quản trị siêu ẩn, kích hoạt nội dung menu chuột phải… thậm chí có thể tấn công tới cả quyền điều khiển tài khoản người dùng (User Account Control). Vì vậy nếu bạn thực sự muốn điểu khiển được Windows Vista, hãy tập trung vào để đọc bài này.
Một lời cảnh báo: Một vài mẹo trong bài này đòi hỏi phải chỉnh sửa Windows Registry (nó sẽ gây ra một số điều nguy hiểm cho máy tính), vì vậy trước khi đụng chạm tới Registry, bạn hãy sử dụng System Restore để tạo một điểm khôi phục để có thể khôi phục lại máy tính khi cần thiết. Để tạo điểm khôi phục trong Windows Vista, bạn chọn Control Panel > System and Maintenance > Restore files from backup > Create a restore point or change settings
1, Hack User Account ControlUser Account Control (UAC) của Windows Vista là một tính năng bị mọi người chê trách nhiều nhất trong hệ điều hành mới này. Chắc chán một điều là nó giúp cho bạn được bảo vệ tốt hơn nhưng đôi khi lại gây ra quá nhiều phiền hà.
Nếu bị các drive UAC luôn làm phiền, bạn có thể tắt nó đi. Có vài cách để làm được việc đó và một trong số cách đó như sau: chọn Control Panel > User Accounts and Family Safety > User Accounts, sau đó kích vào Turn User Account Control on or off.
Bạn có thể sử dụng cách khác là chạy System Configuration Utility bằng cách nhập msconfig vào phần dòng lệnh hoặc vào ô search trong menu Start. Khi công cụ này chạy, chọn tab Tools và kéo thanh trượt xuống cho đến khi nhìn thấy Disable UAC. Chọn nó và kích vào nút Launch, sau đó khởi động lại máy. Để bật UAC trở lại bạn hãy làm các bước tương tự nhưng chọn Enable UAC.
Nếu là một người thích chỉnh sửa Registry, bạn có thể vô hiệu hóa UAC thông qua Registry Editor. Để khởi chạy Registry Editor, nhập regedit vào ô Search trong menu Start hoặc trên cửa sổ lệnh, nhấn Enter và vào nhánh sau:
HKEY_LOCAL_MACHINESOFTWAREMicrosoftWindowsCurrentVersionPoliciesSystemEnableLUA
Đặt cho giá trị của nó là 0. Bạn sẽ cần khởi động lại máy sau khi đã thay đổi Registry.
UAC chỉ làm phiền trong những tài khoản thường sử dụng của Windows Vista. Khi chạy một vài câu lệnh từ cửa sổ lệnh, bạn sẽ được nhắc là không đủ quyền quản trị thực sự để chạy chúng, thậm chí cả khi đang truy cập với một tài khoản quản trị.
Đó là lý do tại sao UAC yêu cầu bạn chạy cửa sổ lệnh như một quản trị viên để có thể gọi hoạt động của cửa sổ lệnh nâng cao. Nếu đơn giản chỉ truy cập với quyền quản trị viên là không đủ, mặc dù vậy bạn vẫn có thể truy cập cửa sổ lệnh nâng cao.
Có một cách để làm điều đó là gõ cmd vào ô Search trên menu Start, kích chuột phải vào biểu tượng cửa sổ lệnh xuất hiện ở phía trên menu Start, chọn Run as administrator.
Nhưng nếu bạn muốn sử dụng được cửa sổ lệnh nâng cao mỗi khi chạy cửa sổ lệnh thông thường? Rất đơn giản. Bạn chỉ cần tạo một shortcut cửa sổ lệnh nâng cao trên nền desktop hoặc gắn nó lên menu Start.
Để tạo shortcut trên destop làm như sau:
1. Kích chuột phải vào nền desktop, chọn New > Shortcut.
2. Trong ô trống trên cửa sổ Create Shortcut, nhập vào cmd và kích Next.
3. Trên cửa sổ tiếp theo, nhập vào tên của shortcut (ví dụ là Elevated Command Prompt), sau đó kích Finish.
4. Kích chuột phải vào shortcut vừa tạo chọn Properties
5. Chọn tab Shortcut và kích vào nút Advanced.
6. Chọn ô tương ứng với phần Run as administrator, kích OK và sau đó OK lần nữa.
Tạo shortcut cho cửa sổ lệnh nâng cao
Giờ thì nếu bạn muốn chạy cửa sổ lệnh nâng cao bất cứ lúc nào, chỉ cần kích đúp vào shortcut đã tạo.
Nếu muốn biểu tượng khởi chạy đó có trên menu Start, bạn chỉ cần kéo nó từ nền Desktop lên nút Start và đặt nó tại vị trí mà bạn muốn.
2. Mở khóa tài khoản quản trị siêu ẩn
Sâu bên trong Windows Vista có một tài khoản quản trị ẩn. Nó hoàn toàn khác so với tài khoản quản trị thông thường mà bạn thường thiết lập trên PC. Tài khoản này không phải là một phần trong nhóm quản trị. Nó là một loại “siêu quản trị”, gần giống như tài khoản gốc trong Unix và mặc định nó luôn được tắt và ẩn.
Trong các phiên bản trước Windows Vista, tài khoản quản trị luôn ẩn và rất nhiều người sử dụng nó như một tài khoản chính duy nhất. Tài khoản này luôn có toàn quyền đối với máy tính.
Trong Windows Vista, Microsoft đã thay đổi. Tài khoản quản trị ẩn không lệ thuộc vào UAC nhưng tài khoản quản trị thông thường thì có. Vì vậy, tài khoản quản trị ẩn có thể tạo bất kỳ thay đổi nào đối với hệ thống như bạn đã thấy trong phần các câu lệnh UAC.
Việc bật tài khoản quản trị ẩn này rất dễ dàng. Đầu tiên bạn mở cửa sổ lệnh nâng cao bằng cách trên (nếu đã tạo shortcut thì việc này càng đơn giản)
Sau đó nhập vào câu lệnh sau rồi nhấn Enter:
Net user administrator /active:yes
Vậy là từ giờ, tài khoản quản trị ẩn sẽ luôn được hiển thị như một lựa chọn trên màn hình Welcome như bất kỳ các tài khoản user khác mà bạn đã thiết lập. Việc sử dụng nó cũng như bất kỳ tài khoản nào khác. Khi mới bật lên thì tài khoản này sẽ chưa có password, vì vậy đầu tiên bạn nên thiết lập password cho nó.
Nếu muốn vô hiệu hóa và ẩn tài khoản quản trị ẩn đi, nhập vào câu lệnh sau trên cửa sổ lệnh nâng cao và nhấn Enter:
Net user administrator /active:no
3, Sử dụng giao diện “gương” Aero
Các đường viền xung quanh cửa sổ hệ thống (như đường viền của hộp thoại hay cửa sổ Control Panel) nhìn trong suốt trong giao diện Aero của Windows Vista
Để chỉnh sửa đường viền rộng hơn hay hẹp hơn:
1. Kích chuột phải vào nền desktop và chọn Personalize
2. Kích chọn Window Color and Appearance
3. Chọn Open classic appearance properties for more color options
4. Từ cửa sổ xuất hiện, hãy đảm bảo rằng Windows Aero được chọn như hệ thống màu sẵn có. Kích vào nút Advanced trên phần bên phải của cửa sổ. Hộp thoại Advanced Appearance sẽ xuất hiện.
5. Chọn Border Padding trên menu lựa chọn Item. Để thay đổi kích thước của đường viền, bạn hãy nhập giá trị kích thước mới cho đường viền (mặc định là 4). Kích OK hai lần. Kích thước của các đường viền sẽ được thay đổi ngay.
Đường viền trong suốt của Windows Aero có giá trị mặc định là 4
(hình trái) và đường viền được tăng lên giá trị 15 (hình phải)
Có nhiều cách để có thể thực hiện tương tự với đường viền. Để thay đổi màu, độ trong suốt của đường viền… kích chuột phải vào nền màn hình, chọn Personalize > Window Color and Appearance.
1. Chọn màu cho cửa sổ ở phần trên của màn hình, hoặc tự tùy chỉnh màu bằng cách kích vào Show color mixer và sau đó di chuyển các thanh trượt để có được màu ưa thích.
2. Để thay đổi độ trong suốt của đường viền cửa sổ, di chuyển thanh trượt Color intensity về phía bên trái hoặc bên phải.
Di chuyển thanh trượt cường độ màu để chọn phần trong suốt cho đường viền cửa sổ
4, Bảo vệ bảo mật riêng tư bằng cách gỡ bỏ siêu dữ liệu Windows Vista
Một trong các tính năng hữu ích nhất của Vista cũng là một trong những tính năng nguy hiểm nhất – tính hữu ích của siêu dữ liệu. Siêu dữ liệu là thông tin về các file mà bạn không trông thấy một cách bình thường nhưng có thể giúp để dễ dàng tìm kiếm chúng.
Ví dụ, đặc trưng của các file nhạc là có chứa tên của người sáng tác, loại nhạc… Một file ảnh thì thường chứa dữ liệu thời gian chụp, người chụp, loại máy và nhiều thông tin khác như tốc độ ISO. Các văn bản, bảng tính thì có chứa nhiều thông tin mở rộng khác nhau về người tạo ra văn bản đó (bao gồm người tạo, thời gain tạo và chỉnh sửa, người xem…
Trong nhiều trường hợp, các chương trình tự động sinh ra các thông tin siêu dữ liệu của người sở hữu khi file được tạo. Người dùng có thể dễ dàng tạo và chỉnh sửa siêu dữ liệu bằng cách kích chuột phải vào file, chọn Properties và chọn tab Details. Sau đó kích vào bất kỳ trường nào và nhập lại trong siêu dữ liệu. Có một số thông tin phải được giữ lại, như thời gian file được in, không thể thay đổi.
Siêu dữ liệu này có thể khá hữu ích bởi Windows Vista có thể tìm kiếm bằng cách sử dụng các thông tin đó. Ví dụ, nếu muốn tìm kiếm mọi bài hát của Mozart trên máy tính, bạn chỉ cần nhập Mozart vào ô tìm kiếm và Vista sẽ tìm trong siêu dữ liệu ra tất cả các bài hát của Mozart.
Nhưng trong một số trường hợp, bạn lại không muốn các siêu dữ liệu trong file của mình bị người khác xem được. Ví dụ, nhà phân tích của hãng Gartner Inc. đã chỉ ra rằng doanh nghiệp phải nhúng siêu dữ liệu vào trong các file về một khách hàng, và doanh nghiệp tất nhiên sẽ không muốn người nào khác nhìn thấy chúng. Có một vài cách đơn giản để cá nhân hóa siêu dữ liệu trong các tài liệu của bạn, những thông tin mà bạn không muốn ai thấy.
Thật dễ dàng để bỏ bất kỳ siêu dữ liệu nào từ bất kỳ file nào:
1. Mở Windows Explorer và kích chuột phải vào file.
2. Chọn Properties
3. Chọn tab Details. Một màn hình hiển thị siêu dữ liệu của tài liệu sẽ xuất hiện như hình dưới
Siêu dữ liệu được kết hợp trong file Word
4. Kích vào liên kết Remove Properties and Personal Information ở phía dưới của cửa sổ. Hộp thoại Remove Properties sẽ xuất hiện
Gỡ bỏ các siêu dữ liệu từ một file
5. Chọn Remove the following properties from this file và kích các ô tương ứng với siêu dữ liệu mà bạn muốn bỏ. Kích OK. Các siêu dữ liệu được lựa chọn sẽ bị gỡ bỏ.
6. Ngoài ra còn một lựa chọn giúp bạn có thể tạo một bản sao của tài liệu với tất cả các siêu dữ liệu đều bị bỏ. Chọn Create a copy with all possible properties removed và kích OK
Bạn có thể bỏ siêu dữ liệu từ nhiều file cùng một lúc. Lựa chọn tất cả các file mà bạn muốn bỏ siêu dữ liêu, kích chuột phải vào chúng và làm theo hướng dẫn như trên. Hoàn toàn hợp lệ để có thể thực hiện điều này, tuy vậy, những file đó phải có cùng các trường siêu dữ liệu để có thể gõ bỏ cùng một lúc.
5, Tăng khả năng của menu ngữ cảnh trong Windows Vista
Menu ngữ cảnh mở rộng |
Nếu muốn bạn có thể thêm tùy chọn vào menu ngữ cảnh. Giữ phím Shift, đồng thời kích chuột phải vào file, bạn sẽ thấy một vài tùy chọn menu mới được đánh dấu bằng các mũi tên (như hình bên)
Tác dụng của từng tùy chọn mới như sau:
Open as Read-Only: như là tên của nó, nó sẽ mở file như là một file chỉ đọc (không được phép ghi).
Pin to Start Menu: Phần này sẽ tạo một shorcut cho file ở phần phía trên của menu Start. Để gỡ bỏ shortcut này từ menu Start, kích chuột phải vào shortcut và chọn Remove from this list.
Add to Quick Launch: Tùy chọn này sẽ thêm một shortcut của file lên thanh công cụ Quick Launch (thanh công cụ ở bên trái của Taskbar). Để bỏ shortcut này, kích chuột phải vào nó và chọn Delete.
Copy as Path: Tùy chọn này sẽ sao chép nên và đường dẫn file vào bộ đệm của Windows (Ví dụ: C:Budget2007 memo.xls). Bạn có thể dán nội dung này vào vị trí thích hợp ngay sau đó.
6, Tăng tốc độ hoặc tắt Windows Aero
Windows Aero có thể là phần lôi cuốn của giao diện nhưng nó còn phụ thuộc vào phần cứng máy bạn. Nó có thể làm chậm dần hệ thống của bạn. Hãy làm tăng tốc độ của máy tính lên bằng cách tắt hoàn toàn nó hoặc tắt một vài tính năng Aero nhưng vẫn cho phép một số tính năng khác hoạt động.
Để tắt Aero:
1. Kích chuột phải vào nền desktop của Windows, chọn Personalize > Window Color and Appearance.
2. Kích chọn Open classic appearance properties for more color options.
3. Trong phần hộp thoại Color scheme sổ xuống, chọn Windows Vista Basic hoặc Windows Vista Standard. Kích OK và Aero sẽ được tắt.
Nhưng lại có một số thứ bạn rất thích ở Aero (như các hoạt ảnh cửa sổ) và có một số thứ lại không thích (như các cửa sổ trong suốt)? Bạn hoàn toàn có thể tắt đi một vài tính năng Aero để làm tăng tốc độ máy tính nhưng vẫn giữ lại được một số tính năng ưa thích.
Để làm điều này, chọn Start > Computer > System Properties. Kích vào Advanced system settings, sau đó, trong phần Performance bạn chọn nút Settings. Trong cửa sổ giao diện như hình dưới, chọn Custom, bỏ chọn những tính năng mà bạn muốn tắt, sau đó kích OK
Chọn những tính năng Windows Aero muốn sử dụng
7, Bỏ qua giao diện log-on vào Windows Vista trên nhiều tài khoản
Khi bạn có hơn một tài khoản người dùng trên một máy tính Windows Vista, mỗi một lần khởi động lại máy bạn lại thấy danh sách màn hình Welcome của tất cả các tài khoản trên máy. Kích chọn một trong số đó và nhập vào thông tin truy cập để có thể vào sử dụng Windows Vista.
Vậy nếu bạn muốn vừa có thể sử dụng một tài khoản chính được sử dụng gần nhất và vẫn có thể chọn các tài khoản khác tùy từng thời điểm? Bạn nên tạo một “đường tắt” tới màn hình Welcome chứa danh sách tất cả các tài khoản người dùng, sau đó tự động truy cập vào khi bạn khởi động lại Windows Vista – trong khi Vista dường như không thể thực hiện được nhiệm vụ đơn giản này.
Trên thực tế, bạn hoàn toàn có thể làm được bằng cách xem các bước dưới đây. Thực hiện theo hướng dẫn, bạn sẽ tự động truy cập vào một tài khoản chính mà vẫn có thể lựa chọn tài khoản khác khi cần:
Màn hình danh sách tất cả các tài khoản người dùng và tùy chọn
1. Tại phần Search hay cửa sổ lệnh, nhập vào control userpasswords2 và nhấn Enter. Màn hình User Accounts sẽ xuất hiện.
2. Chọn tài khoản mà bạn muốn tự động đăng nhập, sau đó bỏ chọn tại phần Users must enter a user name and password to use this computer. Kích OK
3. Hộp thoại Automatically Log On xuất hiện. Nhập mật khẩu vào ô cho tài khoản mà bạn muốn tự động truy cập. (Nếu tài khoản hiển thị không có cái mà bạn muốn tự động truy cập, hãy nhập chính xác tên username và password cho tài khoản. Kích OK
4. Vậy là từ bây giờ, bạn sẽ tự động truy cập sử dụng tài khoản đã chọn. Khi muốn truy cập vào mà muốn lựa chọn các tài khoản khác, sử dụng Fast User Switching: Kích vào nút Start, kích vào mũi tên ở góc dới phải của menu Start, chọn Switch User. Bạn sẽ thấy màn hình chứa danh sách của toàn bộ các tài khoản trên máy tính, khi đó hãy chọn tài khoản cần truy cập.
8, Thay đổi con trỏ nhấp nháy của Vista
Con trỏ nhấp nháy của Windows Vista là một hình xược dọc mỏng như dao cạo và thỉnh thoảng bạn có thể khó nhìn thấy nó nó, đặc biệt là khi sử dụng laptop. Nhưng nếu muốn thì rất dễ dàng để thấy nó, thậm chí tạo ra một con trỏ đậm hơn. Chọn Control Panel > Ease of Access > Optimize visual display. Kéo thanh trượt xuống dưới màn hình, cho đến khi thấy phần Make things on the screen easier to see như hình dưới
Dễ dàng nhìn thấy con trỏ nhấp nháy của Vista hơn
Từ đây, bạn có thể cho đậm hơn con trỏ của Windows Vista. Trong hộp sổ xuống bên cạnh phần Set the thickness of the blinking cursor, hãy chọn số thích hợp. Số càng lớn thì con trỏ càng đậm. Bạn có thể xem trước độ dày của con trỏ tại phần Preview ở bên cạnh menu sổ xuống. Kích vào Save. Toàn bộ con trỏ Trong Windows Vista sẽ đậm hơn và dễ thấy hơn.
9, "Hack" màn hình nghỉ của Vista
Có nhiều nguyên nhân không giải thích được khi Microsoft không cho phép bạn tùy chọn chê độ làm việc của màn hình nghỉ trong Windows Vista. Ví dụ, thay đổi cách sủi bọt trong màn hình nghỉ Bubbles, hay thay đổi số lượng và độ dày của các dải ruy băng trong màn hình nghỉ Ribbons.
Để tùy chỉnh màn hình nghỉ Bubbles, bạn hãy khởi động Registry Editor bằng cách nhập regedit vào ô Search trong Start hoặc nhập trong cửa sổ lệnh, sau đó nhấn Enter.
1. Vào phần
HKEY_CURRENT_USERSoftwareMicrosoftWindowsCurrentVersionScreensaversBubbles
Thiết lập giá trị DWORD |
2. Tạo một DWORD có tên ShowShadows và đưa vào giá trị 1 để hiện thị bóng ở bên dưới bong bóng, và giá trị 0 nếu không muốn có bóng.
3. Tạo một DWORD có tên ShowBubbles và đưa vào giá trị 1 nếu muốn hiển thị bong bóng trên nền desktop, và giá trị 0 nếu muốn trả lại nền ban đầu.
Bạn có thể hack tương tự với màn hình nghỉ Ribbons. Để làm điều này, mở Registry Editor và:
1. Vào phần
HKEY_CURRENT_USERSoftwareMicrosoftWindowsCurrentVersionScreensaversRibbons
Chọn Edit > New DWORD (32-bit) Value, và tạo một DWORD mới với tên NumRibbons. Kích vào Decimal, và nhập giá trị số ruy băng mà bạn muốn hiện thị. Số lượng tối thiếu là 1 và tối đa là 256
2. Tạo một DWORD với tên RibbonWidth, chọn Decimal và nhập vào giá trị độ dày cho từng ruy băng. Số càng nhỏ ruy băng càng mảnh.
3. Khi kết thúc Registry Editor, các thiết lập mới của bạn sẽ bắt đầu có tác dụng
Màn hình nghỉ Ribbons với thiết lập mặc đinh (hình trái) và sau khi đã
chỉnh sửa số lượng cũng như độ dày của ruy băng (hình phải)
Nếu muốn thay đổi bất kỳ một thiết lập nào cho từng màn hình nghỉ, bạn phải vào Registry, tìm đến DWORD thích hợp và thay đổi giá trị. Để khôi phục lại các thiết lập gốc, bạn hãy xóa các Registry đã tạo.
10, Tạo hoạt ảnh chậm khi phóng to/thu nhỏ cửa sổ
Giờ là phần có thể làm tạp bẩn trong Registy và cũng là phần cuối cùng của bài hack thú vị này. Nó hoàn toàn phục vụ cho mục đích giải trí và vui mắt. Nó cho phép bạn làm chậm lại quá trình hoạt động hoạt ảnh khi đóng nhỏ và phóng to các cửa sổ trên thanh Taskbar.
Để làm điều này, trước hết bạn phải chỉnh sửa Registry, sau đó khi muốn làm chậm các hoạt ảnh, hãy giữ phím Shift. Nhả phím Shift ra thì các hoạt ảnh lại trở về tố độ thông thường.
Khở động Registry Editor và thực hiện các thao tác sau
1. Vào HKEY_CURRENT_USERSoftwareMicrosoftWindowsDWM2.
2. Chọn Edit > New DWORD (32-bit) Value và tạo một DWORD mới với tên AnimationsShiftKey. Đặt cho nó giá trị là 1.
3. Đóng Registry Editor, log off ra khỏi Windows và sau đó log vào trở lại hoặc nếu không thì khởi động lại máy.
4. Giữ phím Shift và phóng to hay thu nhỏ một cửa sổ. Hoạt ảnh sẽ chậm lại đáng kể. Để hoạt ảnh trở về tốc độ bình thường thì bạn chỉ cần nhả phím Shift ra.
(Theo ComputerWorld)